Truyện lịch sử ‘Chiến Sĩ Sông Thu’ của Phạm Đình Bách

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV)Xổ số Vietlott hôm nay – “Chiến Sĩ Sông Thu,” tác giả là Hoa Sơn Phạm Đình Bách, vừa được Gia Đình Hoa Sơn xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2020.

Bìa “Chiến Sĩ Sông Thu” của tác giả là Hoa Sơn Phạm Đình Bách. (Hình: Trần Doãn Nho & Bùi Kim Ánh)

Tuy được ghi là ký sự (lịch sử), nhưng theo lời của nhà xuất bản, thì “Chiến Sĩ Sông Thu” là “một cuốn truyện lịch sử với nhiều hư cấu. Chất liệu của sự hư cấu là những sự kiện có thật, đã xảy ra trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nhà cách mệnh Quảng Nam, được kể lại theo trí nhớ từ thế hệ này qua thế hệ khác.”

Để có tài liệu viết, tác giả đã dành thời gian cả chục năm đi nhiều nơi, từ Đà Nẵng ra Huế, len lỏi vào các làng mạc vùng Quảng Nam để tìm gặp các nhà hoạt động còn sống sót hoặc con cháu của họ để phỏng vấn và tìm tài liệu về các phong trào Cần Vương, Nghĩa Hội, Đông Du và Duy Tân.

Xổ số Vietlott hôm nayTuy còn dang dở vì tác giả qua đời bất ngờ do bị lạc đạn trong cuộc chiến Mậu Thân ở Huế năm 1968, nhưng “Chiến Sĩ Sông Thu,” dày gần 400 trang, tái hiện khá đầy đủ một chặng quan trọng trong lịch sử đất nước, kể từ chính biến “Thất Thủ Kinh đô” và vua Hàm Nghi bôn tẩu cho đến thời vua Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội, tập trung vào phong trào nổi dậy chống Pháp ở vùng đất Quảng Nam là Nghĩa Hội.

Với hàng trăm nhân vật khác nhau, từ phía dân quân cho đến phía quan lại thân Pháp và cả những quan chức người Pháp, tác phẩm giúp người đọc hiểu rõ thêm về nhiều vị anh hùng mà trước đây chúng ta chỉ nghe tên mà chưa hề rõ lai lịch cũng như công trạng của họ.

Tác phẩm gồm 33 phần, kể lại những sự kiện lịch sử nối tiếp nhau dưới dạng tựa như chương hồi, mỗi chương kể về lai lịch và sự nghiệp của một hoặc vài nhân vật nổi bật hay về một sự kiện hay một biến cố quan trọng nào đó. Chẳng hạn như “Ấm Sanh Phạm Phú Đường và Tú Tài Huỳnh Quỳ” (chương 8), “Cử Nhân Lê Tấn Toán” (chương 9), “Quan Tế Tửu Nguyễn Đình Tựu” (chương 19), “Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Thân” (chương 20), “Nhà Cách Mệnh Trần Cao Vân” (chương. 29) hay “Lương Giáo Phân Tranh” (chương 4), “Nồi Da Xáo Thịt” (chương 10), vân vân. Sự sắp xếp như thế khiến cho độc giả có thể đọc mỗi chương như đọc một truyện ngắn và nếu thích, có thể đọc bất cứ chương nào cũng được, khỏi cần theo thứ tự.

Tuy dựa hoàn toàn vào chuyện thực, nhưng bằng khả năng hư cấu của một nhà văn, ông biến những chi tiết lịch sử khô khan thành những câu chuyện sống động và biến những nhân vật lịch sử thành những con người đa dạng, phong phú về cả hành trạng lẫn đời sống nội tâm. Ngoài ra, tác giả còn tái hiện khung cảnh sinh hoạt xã hội vào thời đó xuyên qua các tập tục, nghi lễ cũng như tâm tình của nhiều tầng lớp dân chúng khác nhau, từ quan đến dân, từ vùng kháng chiến cho đến triều đình, và đặc biệt, tâm tình phức tạp của giới quan lại đứng trước ngã ba đường của thời cuộc: theo Cần Vương hay theo Pháp, theo vua Hàm Nghi hay theo vua Đồng Khánh.

Dù ca ngợi những anh hùng chống Pháp, tác giả không hề bóp méo hình ảnh của những quan lại theo Pháp mà ngược lại, cố giữ một cái nhìn tương đối khách quan khi đánh giá sự việc. Mặt khác, tác giả cũng phơi bày những xung đột, tranh chấp ngay trong phe Nghĩa Hội (chương “Nồi Da Xáo Thịt”) hay xung đột giữa lực lượng nghĩa quân chống Pháp theo chủ trương “Bình Tây Sát Tả” của phong trào Cần Vương và các làng Công Giáo mà họ cho là đứng về phe người Pháp (chương “Lương Giáo Phân Tranh”).

Nhân vật được đề cập đến nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng nhất trong truyện là Hồng Lô Nguyễn Duy Hiệu. Theo sách sử, ông có hiệu là Hữu Thành, sinh năm Đinh Mùi (1847) ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, nay là xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Thuở bé thông minh, học giỏi. Ông đỗ tú tài năm 16 tuổi, đỗ cử nhân năm 29 tuổi, và ba năm sau, đỗ phó bảng, cùng khoa với Nguyễn Đôn Tiết (Thanh Hóa), Trần Đình Phong (Nghệ An).

Xổ số Vietlott hôm nayHưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông cùng với các đồng chí trong phong trào Văn Thân, đứng ra thành lập Nghĩa Hội, tập hợp quần chúng từ đèo Hải Vân cho đến biên giới phía Nam (của miền Trung). Trong suốt hai năm ròng rã, ông thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, khiến cho chính quyền địa phương và Pháp rất lao đao trong việc bình định. Nhưng rồi sức yếu thế cô, binh sĩ và lương thực ngày mỗi tiêu hao, nghĩa quân không đủ sức chống chỏi với sức mạnh của Pháp và quan quân Nam Triều, nên cuối cùng, ông phải tự nạp mình để tránh cho các đồng chí và nhân dân khỏi chịu cảnh tang tóc do quân Pháp và các quan lại thân Pháp trả thù.

Xổ số Vietlott hôm nayThân thế và hoạt động của vị quan yêu nước này trải dài rải rác qua nhiều chương, trong đó, “Phong Thái Bậc Anh Hùng” và “Đoạn Kết Của Một Bậc Anh Hùng” là hai chương cảm động và gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.

“Phong Thái Bậc Anh Hùng” mô tả những ngày tự do cuối cùng của Nguyễn Duy Hiệu trước khi nạp mình. Ông về làng cũ, thăm thầy học, thắp nhang trước bàn thờ tổ tiên, trước mộ song thân, từ giã các đồng chí trong Nghĩa Hội, chứng kiến cảnh tự vận bằng thuốc độc của người đồng chí thân thiết, cử nhân Phan Bá Phiến, và làm một số việc khác. Ngày hôm sau, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu từ giã xóm làng, một mình “…trèo lên hòn Mộc, một trong năm hòn núi Ngũ Hành, nằm nghỉ trong một cái động. Lính Nam Triều tìm thấy, hô hoán lên và chạy tới hỏi: ‘Ông có phải là phản tặc Nguyễn Duy Hiệu không?’ Vị thủ lãnh Cần Vương thong thả gật đầu nói ‘Chính tôi là thủ lãnh Nghĩa Hội, các anh cứ bắt tôi mà đem nộp cho nhà chức trách.’ Bọn lính Nam Triều lấy dây dừa trói xắp ké bị can và giải về tỉnh lỵ.”

“Đoạn Kết Của Một Bậc Anh Hùng” mô tả cảnh xử án và xử trảm tử tội Nguyễn Duy Hiệu tại Huế. Sau khi bị bắt tại Ngũ Hành Sơn, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu bị nhốt trong một cái cũi sắt chuyển ra Huế. “Bị can không được phép ra khỏi chuồng giam trong trường hợp nghiêm trọng này, cứ ngồi im lặng trên lá cót tre ở một góc cũi, mình bận áo the đen hơi nhàu nhàu, đầu vẫn còn chít khăn nhiễu màu đen, hai chân xếp gọn gàng tròn trịa theo kiểu nhà Phật, hai tay dựa trên một cái hộp cau trầu lát xa cừ, đặt ngay trước mặt.”

Vào ngày hành quyết, “…lúc năm giờ sáng, bọn lính võ lâm vào thức bị can dậy, và bưng sẵn trên tay một mâm cơm đầy những thức ăn khá sang trọng. Biết giờ quyết liệt đã đến, bị can thay quần áo, bịt khăn đen thật chỉnh tề và lấy số tử vi ra xem.”

Họ đưa Nguyễn Duy Hiệu ra thuyền đi về phía pháp trường An Hòa. Tại đây, “Ở phía giữa khoảng đất trống trải tiếp giáp ngay với con đường quốc lộ, theo thủ tục hướng hành, người ta đào một cái huyệt khá sâu, lát dăm bào, và trồng một cái cọc dài chừng một thước tây. Cỏ dại hai bên miệng hầm được giẫy sạch như trong ngày Tết.” (…) “Vào tới trung tâm pháp trường, bị can đứng dựa vào chiếc cọc tre, khoan thai nhìn đồng bào một lần cuối cùng, rồi kín đáo nhoẻn miệng cười.”

Trước khi hành quyết, ông xin phép viết bài thơ “Tuyệt Mệnh” gửi lại cho hậu thế.

“Viết xong, bị can nhìn đi nhìn lại những dòng mực đen chạy ngoằn ngoèo trên tờ giấy trắng tinh (…) rồi đứng dậy nói với tên đao phủ thủ: ‘Thôi! Tôi xin đi, ông hãy giúp cho tôi được yên ổn.’ Bị can chưa dứt lời thì một hồi trống chầu cùng với hồi thinh la vang lên inh ỏi. (…) Tên đao phủ thủ đưa bị can tới chiếc cọc tre, lấy dây buộc hai cánh tay lại, rồi huơ chiếc gươm lên thật cao để lấy đà mà chém.”

Xổ số Vietlott hôm nayHôm đó là ngày rằm Tháng Tám, năm Đinh Hợi (Tháng Mười, 1887).

“Chiến Sĩ Sông Thu” được viết ra với nhiều tâm huyết của tác giả Phạm Đình Bách, là một kết hợp lý thú giữa lịch sử và văn chương, giúp soi sáng một giai đoạn lịch sử khá phức tạp của nước nhà trong thời Pháp thuộc.

Nhà văn Phạm Đình Bách (1910-1968). (Hình: Trần Doãn Nho chụp lại từ trong sách)

Xổ số Vietlott hôm nayHoa Sơn là bút hiệu của Phạm Đình Bách, sinh năm 1910 tại Quế Sơn, Quảng Nam, là con út trong một gia đình khoa bảng, thân phụ là một nho sĩ tham gia tích cực vào phong trào Cần Vương. Ông học ở Huế và Hà Nội. Năm 1938, ông làm thừa phái cho chính phủ Nam Triều, tòng sự tại Quảng Nam.   Sau 1954, ông theo nghề giáo, dạy học tại các trường trung học ở Huế. Năm 1968, trong biến cố Mậu Thân, ông bị trúng đạn, mất.

Về văn chương, ông thuộc thế hệ nhà văn, nhà thơ tiền chiến. Năm 1936, thi phẩm “Từ Đấy” được chấm giải nhất đồng hạng cùng với “Lời Cuối Cùng” của Thanh Tịnh trong cuộc thi văn thơ toàn quốc của Hà Nội báo. Các tác phẩm của ông gồm có:

Xổ số Vietlott hôm nay-Thơ: Chưa Đọng, Vần Thơ Tiên Hội, Vần Thơ Cổ Kính, Màu Thời Gian, Hoa Sơn Thi Tập.

-Văn vần: Chuyện Đất Thiêng (truyện cổ tích Việt Nam).

-Truyện: Chiến Sĩ Sông Thu. [qd]

Có thể bạn quan tâm